Lễ Kỳ Yên là lễ lớn nhất trong năm của mỗi đình làng ở Trảng Bàng, làng tổ chức để cầu cho làng yên ổn, mùa màng thuận lợi và tưởng nhớ người khai phá. Mỗi đình có ngày lễ riêng theo lệ làng, thường vào mùa khô hoặc sau vụ thu hoạch, kéo dài một đến ba ngày với các phần thỉnh sắc, túc yết, tế, xây chầu, hát bội và ăn cỗ.
Kỳ Yên không phải lễ hội du lịch được dàn dựng: đó là việc của làng, do ban quý tế và người dân tự lo. Vì thế người ngoài đến xem cần biết các phần lễ diễn ra thế nào, lúc nào nên đứng xem, lúc nào nên đứng lùi lại. Bài này mô tả trình tự chung của Kỳ Yên đình Nam Bộ như cách các làng Trảng Bàng vẫn làm, kèm những điểm nên chú ý.
Kỳ Yên là gì và vì sao làng nào cũng giữ
Hai chữ Kỳ Yên có nghĩa là cầu cho yên. Ở Nam Bộ, lễ Kỳ Yên còn được gọi đơn giản là cúng đình. Lễ gắn với nhịp nông nghiệp: nhiều làng làm vào đầu năm hoặc giữa mùa khô, có làng chọn thời điểm sau mùa gặt, tuỳ lệ do người xưa đặt. Không có một ngày chung cho cả Trảng Bàng; làng nào giữ ngày làng nấy, có khi ghi rõ trong hương ước cũ.
Lễ Kỳ Yên vừa là nghi lễ vừa là ngày hội. Phần lễ là việc của ban quý tế: dâng lễ vật, đọc văn tế, lạy theo nghi thức. Phần hội là của cả làng: con cháu đi làm xa về, gặp nhau ăn cỗ, xem hát bội, trẻ con chạy chơi ngoài sân đình. Ở một vùng mà người trẻ phần lớn đã vào nhà máy, Kỳ Yên là dịp hiếm hoi cả xóm ngồi lại với nhau.
Vì thế, dù đời sống đã đổi rất nhiều, hầu hết các đình ở Trảng Bàng vẫn giữ lễ. Quy mô có nơi thu gọn, phần hát bội có năm có năm không, tuỳ tiền làng góp được. Nhưng phần lễ chính hầu như không bỏ.
Trình tự chung của một lễ Kỳ Yên
Các làng làm khác nhau đôi chút về tên gọi và thứ tự, nhưng khung chung của Kỳ Yên đình Nam Bộ gồm các phần sau:
- Chuẩn bị: ban quý tế họp, phân công, quét dọn đình, treo cờ phướn, chuẩn bị lễ vật. Phụ nữ trong làng lo bếp, đàn ông dựng rạp, sửa sân. Việc chuẩn bị thường bắt đầu vài ngày trước lễ.
- Thỉnh sắc: nếu làng còn giữ sắc thần, đoàn rước đưa sắc từ nơi cất giữ về đình, có trống, kèn, lọng. Làng không còn sắc thì làm lễ thỉnh thần tượng trưng.
- Túc yết: lễ dâng lễ vật lên thần, thường vào buổi tối hôm trước ngày chánh tế, con vật hiến tế truyền thống ở nhiều đình Nam Bộ là heo.
- Đàn cúng tiền hiền, hậu hiền và các vị thần phụ: tưởng nhớ người khai phá, người có công với làng.
- Chánh tế: phần trang nghiêm nhất, thường vào khuya hoặc rạng sáng. Chủ tế và các bồi tế mặc áo lễ, lạy theo hiệu lệnh của người xướng lễ, đọc văn tế.
- Xây chầu, đại bội: lễ đánh trống chầu mở màn hát bội, mang ý nghĩa dâng diễn lên thần. Sau đó gánh hát bội diễn các tích tuồng.
- Hồi sắc và ăn cỗ: đưa sắc về chỗ cũ, dân làng và khách ngồi ăn cỗ, kết thúc lễ.
Thứ tự và thời gian cụ thể của từng phần do ban quý tế quyết. Người muốn xem phần nào nên hỏi trước giờ giấc, vì có phần diễn ra lúc nửa đêm.
Hát bội và trống chầu: phần hội đặc trưng
Hát bội gắn bó với đình Nam Bộ như hình với bóng. Ngày trước, làng nào có điều kiện đều mời gánh hát bội về diễn trong lễ Kỳ Yên, diễn các tích tuồng quen thuộc về trung hiếu, tiết nghĩa. Sân khấu dựng ngay ở võ ca, hướng vào chánh điện, vì ý nghĩa đầu tiên của buổi diễn là dâng lên thần, sau mới là cho dân làng xem.
Trống chầu là chi tiết thú vị nhất với người xem lần đầu. Người cầm chầu, thường là một bô lão am hiểu tuồng, ngồi trước sân khấu và đánh trống để khen hay chê diễn viên: tiếng trống khen khi diễn hay, có kiểu đánh chê khi diễn vụng. Người cầm chầu vì thế phải có uy tín trong làng và thuộc tuồng.
Hôm nay số gánh hát bội còn hoạt động ít hơn trước, chi phí mời một gánh không nhỏ với quỹ làng. Có năm làng thay bằng đờn ca tài tử hoặc văn nghệ của con em. Nếu năm ấy đình bạn ghé còn hát bội, hãy ngồi xem trọn một lớp tuồng: đó là một nghệ thuật đang thưa dần ở vùng quê.
Cỗ đình và vai trò của phụ nữ, người trẻ
Nếu chánh tế là phần của các ông trong ban quý tế, thì bếp đình là phần của phụ nữ trong làng. Nồi xôi, nồi canh, đĩa thịt luộc, bánh trái đều qua tay họ. Ở Trảng Bàng, trên mâm cỗ đình rất hay có bánh tráng và rau, vì đó là thứ quen thuộc nhất của vùng, nhưng món cụ thể tuỳ làng và tuỳ năm.
Ăn cỗ đình không phải ăn tiệc. Người ta ngồi theo mâm, mời nhau, người lớn ngồi trước, con cháu ngồi sau. Người lạ được mời ngồi ăn là được làng tiếp như khách, nên ăn vừa phải, cảm ơn người dọn, và không tự ý gói mang về những thứ chưa được mời.
Người trẻ có vai trò lớn hơn người ngoài tưởng: khiêng đồ, dựng rạp, lo âm thanh, giữ xe, dọn dẹp. Ở nhiều làng, con cháu đi làm ở khu công nghiệp xin nghỉ một ngày để về phụ đình. Một số đình đã có lớp trẻ tham gia ban quý tế, học xướng lễ từ các bô lão. Đó là cách nghi lễ được truyền lại.
Người ngoài làng đến xem Kỳ Yên: nên và không nên
Hỏi ngày lễ từ người trong làng. Ngày Kỳ Yên tính theo âm lịch, có thể điều chỉnh. Hỏi người dân, ban quý tế, hoặc theo dõi thông báo của đình. Không nên dựa vào một nguồn cũ trên mạng.
Đến trước phần lễ chính, đứng phía sau. Khi đang chánh tế, khách đứng phía sau hoặc hai bên, giữ yên lặng, tắt chuông điện thoại. Không đi cắt ngang giữa bàn thờ và hàng tế.
Hỏi trước khi chụp ảnh, quay phim. Phần lớn làng không cấm, nhưng phần chánh tế cần không gian trang nghiêm. Không dùng đèn chớp, không đặt chân máy chắn lối.
Ăn mặc lịch sự, kín đáo. Như khi vào nhà người lớn tuổi. Áo có tay, quần dài là an toàn.
Góp lễ hoặc công đức theo khả năng. Có thể mang theo trái cây, nhang đèn hoặc góp tiền vào thùng công đức. Không bắt buộc, không cần nhiều.
Đừng biến lễ làng thành phim trường. Tránh dàn dựng, nhờ người làng diễn lại cho đẹp ảnh. Kỳ Yên đẹp nhất khi nó diễn ra đúng như nó vẫn diễn ra.
Kỳ Yên hôm nay: điều gì đổi, điều gì giữ
Đô thị hoá và khu công nghiệp làm Trảng Bàng đổi nhanh. Đất ruộng quanh nhiều đình thành nhà xưởng, phòng trọ. Người trong làng ít còn làm nông, nên ý nghĩa cầu mùa không còn sát đời sống như xưa. Một số làng rút ngắn lễ, bỏ bớt phần, làm vào ngày cuối tuần để con cháu đi làm về được.
Nhưng phần lớn những gì cốt lõi vẫn giữ: chánh tế, tưởng nhớ tiền hiền, ăn cỗ chung. Nhiều người lao động từ nơi khác đến Trảng Bàng, ở trọ lâu năm, cũng bắt đầu ghé đình ngày Kỳ Yên, đứng xem hát bội, ăn chung mâm cỗ. Đình làng, theo cách đó, mở rộng thành nơi gặp gỡ của cả cư dân cũ và mới.
Với người muốn giữ lễ, câu hỏi lớn nhất là tiền và người. Quỹ làng phụ thuộc đóng góp, và người biết nghi thức ngày càng lớn tuổi. Ghi chép, quay phim tư liệu về Kỳ Yên của từng làng, với sự đồng ý của ban quý tế, là một việc có ích mà người trẻ có điện thoại trong tay hoàn toàn làm được.
Lễ vật, văn tế và người xướng lễ
Lễ vật trong Kỳ Yên gồm những thứ quen thuộc của làng quê Nam Bộ: heo, xôi, gà, trái cây, trầu cau, rượu, trà, nhang đèn, hoa. Con heo hiến tế được chọn từ trước, làm sạch, đặt nguyên con trên mâm trong lễ túc yết. Mâm ngũ quả thường có những trái cây sẵn có trong vùng theo mùa.
Văn tế là bài văn đọc trong lễ chánh tế, viết theo lối văn cổ, nêu tên làng, ngày tháng, lý do làm lễ, và lời cầu cho làng. Ngày trước văn tế viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, sau này nhiều làng chuyển sang đọc bằng chữ quốc ngữ theo lối văn cũ. Người đọc văn tế phải có giọng tốt, thuộc nhịp điệu, và đó là một vai trò được kính trọng trong ban quý tế.
Người xướng lễ là người hô từng bước nghi thức: lúc nào chủ tế tiến lên, lúc nào lạy, lúc nào dâng rượu. Nghe tiếng xướng lễ vang trong đình lúc nửa đêm, giữa tiếng trống và mùi nhang, là trải nghiệm khó quên với người lần đầu dự. Ở nhiều làng, người biết xướng lễ đã lớn tuổi, và việc truyền lại cho lớp sau đang là mối lo thật sự.
Chuẩn bị cho một lần đi xem Kỳ Yên
Vì lễ kéo dài và có phần diễn ra ban đêm, một chút chuẩn bị giúp bạn xem trọn vẹn hơn:
- Hỏi trước lịch từng phần: thỉnh sắc lúc nào, túc yết lúc nào, chánh tế lúc nào, hát bội diễn mấy đêm. Chọn phần mình muốn xem nhất thay vì cố ở suốt.
- Mang theo áo khoác mỏng cho phần đêm và rạng sáng; mùa khô ở Trảng Bàng ban ngày nóng nhưng gần sáng có thể se lạnh, sương xuống nhiều.
- Mang thuốc chống muỗi, nhất là ở những đình gần vườn cây, ruộng.
- Gửi xe đúng chỗ làng bố trí, thường có người trông giữ trong những ngày lễ; không dựng xe chắn lối đoàn rước.
- Nếu đi cùng người lớn tuổi hoặc trẻ nhỏ, nên chọn phần thỉnh sắc ban ngày và một buổi hát bội đầu hôm, tránh thức khuya chờ chánh tế.
- Mang theo một ít tiền lẻ nếu muốn góp công đức, và một cuốn sổ nhỏ để ghi tên các phần lễ, tên tuồng hát bội, những gì bạn nghe được.
Đi một lần với sự chuẩn bị như vậy, bạn sẽ hiểu vì sao Kỳ Yên được coi là lúc ngôi đình thật sự sống.
Câu hỏi thường gặp
Lễ Kỳ Yên ở Trảng Bàng vào tháng mấy?
Mỗi đình có ngày riêng theo lệ làng, tính theo âm lịch, phần nhiều rơi vào mùa khô hoặc sau mùa gặt. Không có một ngày chung. Muốn dự, hỏi người dân trong phường xã hoặc ban quý tế của đình đó trước khoảng một tháng.
Kỳ Yên có phải lễ hội có vé vào cửa không?
Không. Kỳ Yên là lễ của làng, ai đến xem với thái độ tôn trọng đều được. Không có vé, không có dịch vụ du lịch đi kèm. Khách có thể góp công đức nếu muốn nhưng không bắt buộc.
Phụ nữ có được tham gia phần tế không?
Theo lệ cũ ở phần lớn đình Nam Bộ, đội tế do nam giới đảm nhận, còn phụ nữ lo phần bếp và lễ vật. Một số nơi đã có thay đổi. Đây là chuyện của từng làng; khách nên quan sát và tôn trọng lệ của làng đó.
Hát bội trong lễ đình có còn không?
Còn ở một số làng, tuỳ năm và tuỳ quỹ làng. Số gánh hát bội hoạt động đã ít hơn trước nên có năm làng thay bằng đờn ca tài tử hay văn nghệ. Hỏi ban quý tế xem năm đó có mời gánh hát không trước khi đi.
Người không theo tín ngưỡng nào có nên dự Kỳ Yên không?
Hoàn toàn có thể. Kỳ Yên trước hết là sinh hoạt văn hoá cộng đồng của làng. Bạn đến xem, ăn cỗ, nghe hát với tư cách khách, không cần lạy hay thắp nhang nếu không muốn; chỉ cần giữ thái độ tôn trọng.
Có thể quay phim Kỳ Yên đăng lên mạng không?
Nên xin phép ban quý tế trước và tránh quay cận mặt người khi chưa hỏi. Nội dung đăng nên mô tả đúng, ghi tên đình và làng, không thêm thắt chuyện linh ứng. Một đoạn phim tư liệu tử tế còn có thể giúp làng lưu giữ nghi lễ.