Phần lớn đất nông nghiệp ở vùng Trảng Bàng là đất xám hình thành trên nền phù sa cổ, loại đất phổ biến của miền Đông Nam Bộ và chiếm phần lớn diện tích tỉnh Tây Ninh cũ. Đất xám có thành phần cát cao, nhẹ, dễ làm, thoát nước nhanh, nhưng nghèo chất dinh dưỡng, giữ nước kém và dễ bạc màu nếu canh tác liên tục mà không bồi bổ.
Bên cạnh đất xám, vùng trũng ven sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn và các rạch có đất phù sa mới, có chỗ đất phèn. Bài này giải thích vì sao đất xám có tính chất như vậy, cây trồng nào hợp, và những cách giữ, cải tạo đất mà nông dân trong vùng hay dùng, theo nguyên lý chung của khoa học đất.
Đất xám hình thành như thế nào
Miền Đông Nam Bộ nằm trên một nền đất cao hơn đồng bằng sông Cửu Long, gồm các lớp trầm tích cổ do sông ngòi bồi đắp từ rất lâu, sau đó được nâng lên. Trải qua thời gian dài dưới khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa, các lớp trầm tích này bị rửa trôi mạnh: sét và chất dinh dưỡng bị nước mưa kéo xuống sâu hoặc trôi đi, phần còn lại ở tầng mặt chủ yếu là cát và bột màu xám sáng.
Đó là lý do đất có màu xám, xám trắng hay xám vàng, nhìn khá "bạc". Khi trời khô, mặt đất dễ thành bụi; khi mưa, nước thấm nhanh xuống dưới. Ở một số nơi, bên dưới tầng mặt có lớp đất chặt hơn, có kết von, sỏi sắt hay đá ong non, chính lớp này giúp vách địa đạo trong vùng tự đứng được.
Cần phân biệt đất xám với đất đỏ bazan ở các vùng như Bình Phước, Đồng Nai, Tây Nguyên. Đất đỏ bazan giàu sét, giữ nước tốt và màu mỡ hơn nhiều. Người từ vùng đất đỏ chuyển tới Trảng Bàng làm nông thường phải điều chỉnh cách tưới, cách bón vì đất ở đây "đói" và "khát" nhanh hơn.
Đặc điểm đất xám và hệ quả cho canh tác
Bảng dưới tóm tắt các đặc điểm thường gặp của đất xám miền Đông theo mô tả chung; mỗi thửa đất cụ thể có thể khác, nên lấy mẫu phân tích khi cần quyết định đầu tư lớn:
| Đặc điểm | Biểu hiện thực tế | Hệ quả cho người trồng |
|---|---|---|
| Thành phần cát cao | đất tơi, dễ cày xới, khô nhanh | làm đất nhẹ công nhưng phải tưới nhiều lần hơn |
| Ít sét, ít mùn | đất không dính tay, màu nhạt | giữ phân kém; bón một lần nhiều dễ bị rửa trôi |
| Thoát nước nhanh | mưa xong ít đọng | hợp cây không chịu úng như mì, đậu phộng, cây ăn trái |
| Thường hơi chua | cây dễ thiếu lân, canxi | nhiều nơi phải bón vôi, bón lân |
| Dễ bạc màu | năng suất giảm dần nếu trồng liên tục | cần luân canh, bón hữu cơ, che phủ đất |
Nhìn bảng, có thể thấy đất xám không phải "đất xấu" theo nghĩa vô dụng. Nó là đất dễ làm và hợp với nhiều cây trồng cạn, chỉ đòi hỏi người canh tác bồi bổ đều đặn và tưới đúng cách. Rất nhiều vùng chuyên canh ở miền Đông đã phát triển trên chính loại đất này.
Cây trồng hợp với đất xám
Những cây chịu được đất nhẹ, nghèo, thoát nước nhanh là lựa chọn quen thuộc trên đất xám. Mì (sắn) là cây tiêu biểu: chịu hạn, chịu đất nghèo, rễ củ phát triển tốt trong đất tơi. Đậu phộng cũng hợp vì cần đất tơi xốp để tia quả đâm xuống đất. Bắp, mè, các loại đậu, dưa hấu, rau ăn lá có tưới cũng trồng được.
Cây lâu năm như cao su, điều, một số cây ăn trái có thể phát triển trên đất xám nếu được chăm sóc. Ở miền Đông, cao su và điều từng là cây chủ lực trên đất xám ở nhiều vùng; tại Trảng Bàng, một phần diện tích phía bắc và đông bắc có vườn cao su, xen các loại cây khác.
Lúa nước thì ít hợp với đất xám trên gò vì đất giữ nước kém, nên lúa tập trung ở vùng trũng ven sông, ven rạch, nơi đất có nhiều sét hơn và có nguồn nước. Ở những chỗ có kênh thuỷ lợi, một phần đất xám thấp cũng được làm lúa, nhưng chi phí nước và phân thường cao hơn so với đất phù sa.
Cách giữ màu cho đất xám
Bón phân hữu cơ đều đặn. Phân chuồng hoai, phân xanh, rơm rạ, bã mía, xác thực vật vùi vào đất giúp tăng mùn, giúp đất giữ nước và giữ phân tốt hơn. Đây là biện pháp nền tảng, hiệu quả rõ sau vài vụ.
Chia nhỏ lượng phân hoá học. Vì đất giữ phân kém, bón một lần nhiều dễ bị mưa rửa trôi. Chia làm nhiều lần theo giai đoạn cây cần giúp tiết kiệm và giảm thất thoát. Liều lượng cụ thể nên theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và khuyến cáo trên bao bì.
Che phủ mặt đất. Phủ rơm, lá khô, hoặc trồng cây che phủ giữa các hàng giúp giảm bốc hơi, giảm xói mòn khi mưa lớn và giữ đất mát vào mùa nắng.
Luân canh, xen canh. Trồng mì nhiều vụ liên tiếp làm đất kiệt nhanh. Xen hoặc luân canh với cây họ đậu giúp đất có thêm đạm tự nhiên và cắt vòng sâu bệnh.
Bón vôi khi đất chua. Đất xám thường hơi chua. Bón vôi giúp cải thiện độ chua, nhưng nên đo độ pH trước, không bón theo cảm tính.
Tưới nhỏ giọt, phun mưa. Đất thấm nhanh nên tưới tràn tốn nước. Hệ thống tưới nhỏ giọt, phun mưa giúp đưa nước tới rễ hiệu quả hơn, đặc biệt với rau màu và cây ăn trái.
Khi nào nên lấy mẫu đất phân tích
Nhiều nông hộ bón phân theo kinh nghiệm và theo hàng xóm, điều này thường ổn với cây quen thuộc. Nhưng khi chuyển sang cây trồng mới, mua hay thuê một mảnh đất lạ, hoặc thấy năng suất giảm mà không rõ lý do, việc lấy mẫu đất phân tích là đáng làm. Phân tích cho biết độ chua, hàm lượng mùn, đạm, lân, kali và một số chỉ tiêu khác.
Cách lấy mẫu đúng là lấy nhiều điểm trên thửa ruộng, trộn lại thành một mẫu đại diện, không lấy ở chỗ vừa bón phân hay góc ruộng có đống rơm. Các trung tâm khuyến nông, trường đại học nông lâm và một số đơn vị dịch vụ có nhận phân tích đất. Hỏi cán bộ nông nghiệp xã để được hướng dẫn nơi gửi mẫu.
Kết quả phân tích chỉ có ý nghĩa khi đọc cùng nhu cầu của cây trồng. Nên nhờ cán bộ kỹ thuật giải thích và đề xuất cách bón, thay vì tự suy ra liều lượng từ bảng số liệu.
Đất xám trước sức ép đô thị hoá
Ở Trảng Bàng, đất xám trên gò cao cũng là loại đất dễ chuyển thành đất xây dựng: cao ráo, không ngập, nền móng tương đối ổn. Vì thế, những năm qua, nhiều mảnh vườn, rẫy trên đất xám gần trục đường lớn đã thành khu công nghiệp, khu dân cư, dãy nhà trọ. Diện tích canh tác thu hẹp, trong khi vùng trũng ven sông khó xây dựng hơn nên vẫn giữ lại làm ruộng.
Khi đất canh tác bị chia nhỏ, xen giữa nhà cửa, việc làm nông cũng thay đổi: khó cơ giới hoá, khó phun thuốc mà không ảnh hưởng hàng xóm, khó giữ nước. Một số nông hộ chuyển sang trồng rau, cây cảnh, cây ăn trái quy mô nhỏ phục vụ thị trường gần, thay cho cây công nghiệp cần diện tích lớn.
Câu chuyện đất xám vì thế không chỉ là chuyện thổ nhưỡng. Nó gắn với cách người Trảng Bàng chọn sinh kế giữa ruộng rẫy và nhà máy, một chủ đề được bàn kỹ hơn ở các mục khác của trang.
Nhận biết đất xám bằng tay và mắt
Không cần phòng thí nghiệm, người làm nông lâu năm vẫn nhận biết được tính chất đất bằng vài thao tác đơn giản. Bốc một nắm đất ẩm, bóp lại rồi xoè tay: đất xám nhiều cát sẽ rời ra, không giữ được hình nắm; đất có nhiều sét sẽ dính thành cục, có thể vê thành sợi. Xoa đất giữa hai ngón tay, cảm giác lạo xạo là cát, mịn trơn là sét và bột.
Màu đất cũng nói nhiều điều. Đất càng sẫm màu thì thường càng nhiều mùn; đất xám nhạt, gần như trắng là đất đã bị rửa trôi mạnh, nghèo mùn. Sau mưa, quan sát xem nước thấm nhanh hay đọng: đất thấm ngay là đất nhẹ, đất đọng lâu có thể có tầng chặt bên dưới hoặc nhiều sét.
Cuối cùng là nhìn cây và cỏ mọc tự nhiên. Ruộng bỏ hoang mọc toàn cỏ thấp, thưa, vàng úa thường là đất nghèo; nơi cỏ dày, xanh tốt là đất khá hơn. Những quan sát này không thay được phân tích, nhưng giúp người mới đến đánh giá sơ bộ một mảnh đất trước khi bỏ tiền thuê hay mua.
Một cách thử đơn giản khác là đào một hố nhỏ sâu chừng nửa mét. Nhìn vách hố, bạn sẽ thấy lớp đất mặt sẫm hơn (nơi có mùn và rễ cây), bên dưới là lớp xám nhạt, có khi sâu hơn là lớp chặt có hạt kết von màu nâu đỏ. Độ dày của lớp đất mặt sẫm màu cho biết đất còn "khoẻ" tới đâu; lớp này càng mỏng thì càng cần bồi bổ hữu cơ.
Xói mòn và rửa trôi trong mùa mưa
Đất xám nhẹ, ít kết dính nên dễ bị nước mưa cuốn đi, nhất là trên những chỗ đất dốc nhẹ hoặc ruộng mới cày xong chưa có cây che phủ. Những trận mưa rào lớn đầu mùa, rơi xuống đất khô trần sau mùa nắng, là lúc xói mòn mạnh nhất: lớp đất mặt tốt nhất trôi theo dòng nước xuống rãnh, xuống kênh, để lại những vệt cát trắng trên ruộng.
Cùng với đất, phân bón cũng bị rửa trôi. Bón phân ngay trước một trận mưa lớn là cách lãng phí tiền nhanh nhất trên đất xám. Người có kinh nghiệm thường xem trời, bón khi đất đủ ẩm và dự báo không có mưa to trong một hai ngày, hoặc vùi phân vào đất thay vì rải trên mặt.
Các biện pháp chống xói mòn đơn giản gồm làm luống theo đường đồng mức ở chỗ đất dốc, giữ cỏ trên bờ, trồng cây che phủ, không để đất trống lâu giữa các vụ. Ở quy mô cánh đồng, giữ cho hệ thống kênh tiêu thông thoáng giúp nước mưa thoát đi có kiểm soát thay vì chảy tràn cuốn đất.
Câu hỏi thường gặp
Đất xám có trồng được sầu riêng không?
Về nguyên tắc, cây ăn trái lâu năm cần đất sâu, thoát nước tốt và đủ dinh dưỡng; đất xám thoát nước tốt nhưng nghèo, giữ nước kém nên đòi hỏi đầu tư phân hữu cơ, tưới và kỹ thuật cao. Trước khi trồng cây giá trị cao, nên phân tích đất và hỏi cán bộ kỹ thuật về khả năng thích nghi.
Vì sao đất xám dễ bị bạc màu?
Đất xám ít sét và mùn, nên khả năng giữ chất dinh dưỡng thấp. Mưa nhiều theo mùa rửa trôi phân bón và chất dinh dưỡng xuống sâu. Nếu trồng liên tục một loại cây mà không bồi bổ hữu cơ, đất càng nghèo đi, năng suất giảm dần qua các vụ.
Đất xám và đất cát pha có giống nhau không?
Đất xám là tên gọi theo nhóm đất trong phân loại thổ nhưỡng, thường có thành phần cơ giới là cát pha hoặc thịt nhẹ. Cát pha là cách gọi theo thành phần hạt. Nói nôm na, phần lớn đất xám ở Trảng Bàng có cảm giác như đất cát pha khi cầm trên tay.
Có cần bón vôi mỗi năm không?
Không nhất thiết. Bón vôi nên dựa trên kết quả đo độ chua của đất và nhu cầu của cây trồng. Bón quá nhiều có thể làm mất cân bằng dinh dưỡng. Có thể đo độ pH bằng dụng cụ đơn giản hoặc gửi mẫu phân tích, rồi hỏi cán bộ kỹ thuật về lượng vôi phù hợp.
Đất phèn ở Trảng Bàng nằm ở đâu?
Đất phèn thường gặp ở vùng trũng ven sông Vàm Cỏ Đông và ven một số rạch, nơi ngập nước lâu. Vị trí cụ thể khác nhau theo từng cánh đồng. Người mua, thuê đất ven sông nên hỏi người làm ruộng lâu năm và cán bộ nông nghiệp xã về tình trạng phèn của chân ruộng.