Phần lớn đình làng ở Trảng Bàng được giữ bởi ban quý tế (còn gọi là ban hội hương, ban trị sự đình tuỳ nơi) gồm các bô lão và người có uy tín trong làng, cùng một vài người giữ đình tự nguyện lo nhang khói, quét dọn hằng ngày. Quỹ đình sống nhờ đóng góp của dân làng và khách, ngoài phần hỗ trợ của nhà nước nếu đình đã được xếp hạng di tích.
Nhìn từ bên ngoài, một ngôi đình có vẻ tự nhiên mà còn đó qua năm tháng. Thực tế, đằng sau là công sức của một nhóm người không lương, làm việc quanh năm. Bài này giải thích ban quý tế làm gì, những khó khăn đang gặp, và những cách cụ thể mà người trẻ, cư dân mới hay người ở xa có thể góp sức giữ di tích làng.
Ban quý tế là ai
Ban quý tế là nhóm người được làng tín nhiệm để lo việc đình. Thành phần thường gồm các bô lão am hiểu nghi lễ, những người có uy tín, có kinh nghiệm tổ chức, và một số người trẻ hơn lo việc chân tay, sổ sách. Ban có người đứng đầu, gọi là chánh bái, chủ tế hay trưởng ban tuỳ làng, và các thành viên phụ trách từng việc.
Không có quy định chung cho mọi làng: số người, cách chọn, nhiệm kỳ do lệ làng và sự thoả thuận của dân làng. Có làng bầu lại sau một số năm, có làng giữ người lâu dài cho đến khi người đó xin thôi vì tuổi già. Một điểm chung là vị trí trong ban quý tế được coi là vinh dự, không phải việc làm có lương.
Sau năm 1975 và đặc biệt từ khi các di tích được xếp hạng, nhiều ban quý tế phối hợp với chính quyền và cơ quan văn hoá địa phương trong việc quản lý, trùng tu. Với đình đã được xếp hạng, có những quy định riêng về việc sửa chữa, thay đổi kiến trúc mà ban phải tuân theo.
Ban quý tế làm gì quanh năm
Công việc của ban không chỉ là tổ chức lễ Kỳ Yên. Một năm của ban quý tế thường gồm:
- Lo nhang khói ngày rằm, mùng một và các ngày lễ; mở cửa đình những ngày dân làng đến thắp nhang.
- Quét dọn, sửa chữa nhỏ: thay ngói vỡ, sơn lại cửa, cắt tỉa cây trong sân, khơi thông rãnh nước mùa mưa.
- Giữ gìn hiện vật: sắc thần (nếu còn), hoành phi, câu đối, đồ thờ, kiểm tra mối mọt, ẩm mốc, phòng cháy.
- Tổ chức lễ Kỳ Yên, các lễ khác của làng: họp bàn, quyên góp, mời gánh hát, lo cỗ.
- Quản lý quỹ đình: ghi chép thu chi, công khai cho dân làng, nhất là sau mỗi mùa lễ.
- Tiếp khách đến thăm, đoàn học sinh, đoàn nghiên cứu; trả lời câu hỏi về lịch sử đình.
- Phối hợp với chính quyền về an ninh, phòng cháy, trùng tu, giấy tờ đất đình.
Phần lớn công việc này do những người đã lớn tuổi đảm nhận. Đó là lý do chuyện người kế tục đang là mối lo lớn nhất của nhiều ban quý tế ở Trảng Bàng.
Người giữ đình: công việc thầm lặng
Bên cạnh ban quý tế, nhiều đình có một hoặc vài người giữ đình, còn gọi là ông từ, người trông coi. Họ thường là người nhà gần đình, lớn tuổi, nhận lo việc mở cửa, đóng cửa, thắp nhang, quét sân hằng ngày. Một số làng có chút hỗ trợ cho người giữ đình từ quỹ làng, một số hoàn toàn là tự nguyện.
Người giữ đình thường là người hiểu đình rõ nhất: biết cây cột nào bị mối, mái chỗ nào dột, ngày nào ai đến thắp nhang, khách nào hay ghé. Họ cũng là người kể chuyện tốt nhất về đình cho khách lạ. Nếu bạn đến đình vào giờ họ đang làm việc, một lời chào và vài câu hỏi tử tế thường mở ra cả một buổi trò chuyện.
Khi người giữ đình già yếu hoặc qua đời mà không có người thay, đình dễ rơi vào cảnh đóng cửa quanh năm, chỉ mở vào ngày lễ. Đó là bước đầu của sự xuống cấp, vì mái dột, mối mọt không ai phát hiện kịp.
Quỹ đình đến từ đâu và đi đâu
Nguồn chính của quỹ đình là đóng góp của dân làng: mỗi mùa Kỳ Yên, ban quý tế đi quyên góp từng nhà, ghi tên người góp và số tiền vào sổ, có nơi niêm yết công khai trên bảng ở đình. Con cháu đi làm ăn xa, thành đạt, thường gửi tiền về góp, nhất là khi đình cần trùng tu lớn.
Nguồn thứ hai là công đức của khách đến thăm, bỏ vào thùng công đức. Nguồn thứ ba, với đình đã được xếp hạng di tích, là hỗ trợ của nhà nước cho các hạng mục trùng tu theo dự án. Phần hỗ trợ này thường có điều kiện và quy trình riêng.
Chi tiêu của quỹ chủ yếu là tổ chức lễ, sửa chữa, mua sắm đồ thờ, điện nước, và đôi khi giúp đỡ người khó khăn trong làng. Việc ghi chép, công khai thu chi là điều mà dân làng rất coi trọng; một ban quý tế minh bạch thì dễ quyên góp hơn trong những năm sau.
Những khó khăn đang gặp và hướng xử lý của các làng
Không phải đình nào cũng gặp hết, nhưng đây là những vấn đề hay được ban quý tế ở vùng đô thị hoá nhanh như Trảng Bàng nhắc tới:
| Khó khăn | Vì sao | Hướng làng thường làm |
|---|---|---|
| Thiếu người kế tục | Người trẻ đi làm nhà máy, đi xa; ít người học nghi lễ | Mời người trẻ vào ban từ việc nhỏ, học dần từ bô lão |
| Quỹ hạn hẹp | Dân làng phân tán, thu nhập không đều | Kêu gọi con cháu ở xa, công khai thu chi để giữ lòng tin |
| Đình xuống cấp | Gỗ cũ, mối mọt, mưa nhiều | Sửa nhỏ thường xuyên, xin hỗ trợ khi đình đã xếp hạng |
| Không gian bị thu hẹp | Đô thị hoá, đường mới, nhà dân sát vách | Giữ giấy tờ đất đình, phối hợp chính quyền |
| Mất tư liệu | Người biết chuyện lớn tuổi, ít ghi chép | Ghi âm, chụp ảnh, viết lại lịch sử đình |
Phần lớn giải pháp không cần nhiều tiền mà cần người. Đó là chỗ người trẻ và cư dân mới có thể góp phần.
Người trẻ và cư dân mới góp sức thế nào
Không cần trở thành thành viên ban quý tế mới giúp được đình làng. Một vài việc cụ thể:
- Đến và hỏi chuyện. Ghé đình vào ngày thường, chào người giữ đình, hỏi về lịch sử. Một ngôi đình có người lui tới là một ngôi đình được để ý.
- Phụ việc ngày lễ. Mùa Kỳ Yên luôn cần người khiêng đồ, dựng rạp, giữ xe, dọn dẹp. Xin phụ một buổi là một cách làm quen với làng.
- Ghi tư liệu có xin phép. Ghi âm lời kể của bô lão, chụp lại các hoành phi, câu đối, sắc thần (nếu được phép), rồi gửi lại cho ban quý tế một bản. Tư liệu này vô giá khi người biết chuyện không còn.
- Hỗ trợ việc số hoá sổ sách. Giúp ban lập bảng thu chi, danh sách người đóng góp trên máy tính, chụp lưu sổ cũ. Đây là việc người lớn tuổi cần giúp nhất.
- Góp công đức theo khả năng. Không cần nhiều; quan trọng là đều đặn và minh bạch, bỏ vào thùng hoặc đưa ban quý tế, nhận lại ghi nhận nếu muốn.
- Báo hư hỏng. Thấy mái dột, cây sắp đổ, dây điện chập chờn ở đình, báo cho người giữ đình hoặc ban quý tế ngay.
Những việc này nhỏ nhưng cộng lại thì quyết định một ngôi đình còn sống hay chỉ còn là một công trình đóng cửa.
Khi người làng đi xa: giữ liên hệ với đình
Rất nhiều người gốc Trảng Bàng hiện sống ở TP Hồ Chí Minh, các tỉnh khác hoặc nước ngoài. Đình làng là sợi dây nối họ với quê. Nhiều người vẫn giữ thói quen gửi tiền về góp Kỳ Yên, về dự lễ khi có thể, hoặc góp phần lớn vào các đợt trùng tu.
Với thế hệ con cháu sinh ra ở nơi khác, đình có khi chỉ là một cái tên cha mẹ nhắc tới. Đưa con về dự một mùa Kỳ Yên, chỉ cho con thấy tên ông bà trong sổ công đức hay trên bài vị tiền hiền nếu có, là cách giữ sợi dây ấy không đứt.
Ngày nay nhiều ban quý tế đã có nhóm liên lạc trên mạng xã hội, cập nhật lịch lễ, kêu gọi đóng góp. Nếu bạn là người làng ở xa, hỏi người thân ở quê để được thêm vào nhóm; đó là cách đơn giản để biết đình mình đang cần gì.
Một ngày của người giữ đình
Ngày của người giữ đình thường bắt đầu từ sáng sớm: mở cửa đình, quét sân, nhặt lá rụng, lau bàn thờ, thay nước, thắp nhang. Ngày rằm, mùng một thì làm kỹ hơn, chuẩn bị cho dân làng đến thắp nhang. Buổi trưa đóng bớt cửa, chiều mở lại, tối khoá cửa và kiểm tra điện, nhang đèn để phòng cháy.
Giữa ngày có thể có khách: một nhóm học sinh đến tìm hiểu, một người làng đi xa về thắp nhang, một người lạ hỏi đường. Người giữ đình vừa trông coi vừa là người tiếp khách, kể chuyện, nhắc nhở khách ăn mặc, đi lại cho đúng.
Mùa mưa, việc nhiều hơn: kiểm tra mái dột, khơi rãnh nước, phát hiện mối. Những dấu hiệu nhỏ như một vệt nước loang trên vách gỗ, một đường đất mối trên cột, nếu không được phát hiện sớm có thể thành hư hỏng lớn. Đó là lý do có người giữ đình hằng ngày quan trọng hơn mọi đợt trùng tu.
Ghi chép tư liệu đình làng cho có giá trị
Ghi rõ nguồn từng chi tiết. Ai kể, kể ngày nào, người kể bao nhiêu tuổi, quan hệ thế nào với đình. Chi tiết nào có văn bản (bia, sắc, sổ), chi tiết nào chỉ là lời kể, phải tách riêng.
Chụp ảnh có thước đo và ghi chú. Khi chụp hoành phi, câu đối, bia, nên chụp toàn cảnh rồi chụp chi tiết, ghi lại vị trí trong đình. Nếu được, nhờ người đọc được chữ Hán Nôm phiên âm và dịch nghĩa.
Ghi âm nguyên văn. Đừng chỉ ghi tóm tắt. Giọng kể, cách dùng từ của người già là một phần giá trị của tư liệu. Xin phép người kể trước khi ghi âm.
Lưu nhiều bản. Một bản cho đình, một bản cho người ghi, nếu được thì một bản gửi cơ quan văn hoá địa phương hoặc thư viện. Tư liệu chỉ có một bản rất dễ mất.
Không thêm thắt. Khi viết lại, giữ đúng những gì được kể và có bằng chứng. Chuyện linh ứng, truyền thuyết có thể ghi lại như văn hoá truyền miệng, nhưng ghi rõ là truyền thuyết.
Câu hỏi thường gặp
Ai được vào ban quý tế?
Tuỳ lệ từng làng. Thường là người có uy tín, sống lâu năm ở làng, am hiểu nghi lễ hoặc có kinh nghiệm tổ chức, được dân làng tín nhiệm. Một số làng đã mời người trẻ vào ban để học dần. Muốn tham gia, hỏi trưởng ban hoặc người giữ đình.
Góp tiền cho đình có được ghi nhận không?
Phần lớn ban quý tế ghi tên người góp và số tiền vào sổ, nhiều nơi niêm yết trên bảng ở đình sau mỗi mùa lễ. Nếu bạn muốn được ghi nhận, nói với người nhận tiền; nếu muốn góp kín đáo, bỏ vào thùng công đức.
Đình đã xếp hạng di tích có được tự sửa chữa không?
Với di tích đã được xếp hạng, việc tu bổ, sửa chữa thường phải theo quy định về bảo tồn di tích và có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền, nhất là khi đụng đến kết cấu, kiến trúc. Sửa nhỏ, vệ sinh thường xuyên vẫn làm được; ban quý tế nên hỏi cơ quan văn hoá trước khi làm hạng mục lớn.
Muốn ghi chép lịch sử một ngôi đình thì bắt đầu từ đâu?
Xin phép ban quý tế, sau đó ghi âm lời kể của bô lão, chụp ảnh hoành phi, câu đối, bia đá, sổ sách cũ. Ghi rõ người kể, ngày ghi, và tách bạch giữa chuyện được kể với điều có văn bản xác nhận. Gửi lại cho đình một bản.
Cư dân không phải người làng có nên tham gia việc đình không?
Nên, nếu bạn sống lâu dài ở đó và có thiện chí. Phần lớn làng hoan nghênh người phụ việc ngày lễ, góp công đức, giúp ghi chép. Chỉ cần tôn trọng lệ làng và để ban quý tế quyết định những việc thuộc nghi lễ.