Lúa ở vùng Trảng Bàng tập trung ở những chân ruộng thấp: vùng phía tây gần sông Vàm Cỏ Đông (khu vực xã Phước Chỉ mới, gồm Phước Chỉ và Phước Bình cũ), ven các rạch, ven sông Sài Gòn phía đông, và những nơi có nước kênh thuỷ lợi. Nơi đủ nước làm được hai đến ba vụ mỗi năm; ruộng chỉ nhờ nước trời làm ít vụ hơn.
So với các vùng lúa lớn của Long An cũ hay miền Tây, lúa ở Trảng Bàng không chiếm diện tích lớn, nhưng là một phần quen thuộc của cảnh quan và đời sống. Bài này mô tả cánh đồng theo nhịp mùa vụ, cách làm lúa phổ biến hiện nay, vai trò của máy móc, chuyện rơm rạ, và những đổi thay khi đất ruộng chịu sức ép đô thị hoá.
Lúa nằm ở đâu trên đất Trảng Bàng
Nếu đi từ trục quốc lộ 22 về phía tây, qua khu vực Phước Chỉ, bạn sẽ thấy cảnh vật chuyển dần từ nhà xưởng, nhà phố sang vườn, rẫy rồi những cánh đồng lúa phẳng, thấp, có rạch và bờ bao. Đây là vùng lúa rõ nhất của Trảng Bàng, nơi đất phù sa ven sông và đất trũng giữ được nước.
Phía đông, dọc sông Sài Gòn ở Hưng Thuận, Đôn Thuận cũ, cũng có ruộng lúa ở chân đất thấp, xen với vườn cao su và rẫy trên gò. Ở khu vực giữa, một số ruộng trên đất xám thấp được làm lúa nhờ nước kênh Đông Dầu Tiếng.
Ruộng lúa gần trung tâm và gần các khu công nghiệp ngày càng ít, nhiều thửa đã thành đất ở, đất sản xuất. Những thửa còn lại thường nhỏ, bị nhà cửa bao quanh, khó cơ giới hoá và dễ bị ảnh hưởng nước thải, nên nhiều chủ ruộng chuyển sang trồng cây khác hoặc để đất chờ chuyển mục đích.
Các vụ lúa trong năm
Vụ đông xuân. Gieo khoảng cuối năm, đầu mùa khô, thu hoạch khoảng đầu năm sau. Thời tiết nắng, ít sâu bệnh hơn, thường cho năng suất và chất lượng tốt nhất. Cần nguồn nước tưới chủ động từ kênh hoặc sông.
Vụ hè thu. Gieo khoảng đầu mùa mưa, thu hoạch giữa mùa mưa. Lúa gặp mưa nhiều, sâu bệnh nhiều hơn, thu hoạch có thể gặp mưa làm lúa ướt, khó phơi.
Vụ thu đông hoặc vụ mùa. Một số chân ruộng làm thêm vụ thứ ba cuối mùa mưa, nếu không bị ngập sâu. Vùng trũng ven sông có thể phải bỏ vụ này vì mùa nước.
Ruộng nhờ nước trời. Những thửa không có kênh thường chỉ làm một vụ trong mùa mưa, mùa khô bỏ trống hoặc trồng màu nếu có giếng.
Xuống giống đồng loạt. Ngành nông nghiệp thường khuyến cáo các khu ruộng xuống giống tập trung trong một khung thời gian, gọi là "né rầy", để cắt vòng đời sâu bệnh và dễ điều tiết nước. Lịch cụ thể mỗi vụ được thông báo qua chính quyền xã và tổ dùng nước.
Gieo sạ, chăm sóc: cách làm lúa ngày nay
Phần lớn ruộng lúa ở miền Nam hiện nay gieo sạ thay vì cấy: hạt giống được ngâm ủ cho nứt nanh rồi gieo thẳng lên ruộng đã làm phẳng. Sạ nhanh, ít công hơn cấy rất nhiều. Một số nơi dùng máy sạ theo hàng để tiết kiệm giống và dễ chăm sóc hơn sạ lan.
Giống lúa phổ biến là các giống ngắn ngày, năng suất cao, do các viện, trung tâm giống phát triển. Thời gian từ gieo tới gặt thường khoảng ba tháng hoặc hơn chút, đủ cho hai, ba vụ mỗi năm. Việc chọn giống nên theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp địa phương cho từng vụ, từng chân đất.
Chăm sóc gồm quản lý nước, bón phân theo giai đoạn, làm cỏ và phòng trừ sâu bệnh như rầy nâu, đạo ôn, sâu cuốn lá. Các chương trình "ba giảm ba tăng", "một phải năm giảm" và quản lý dịch hại tổng hợp đã được phổ biến nhiều năm, khuyến khích giảm giống, giảm phân, giảm thuốc mà vẫn giữ năng suất. Người làm ruộng nên tham gia các lớp tập huấn do khuyến nông tổ chức để cập nhật.
Máy gặt về làng
Nếu ba mươi năm trước mùa gặt là cảnh cả xóm cầm liềm ra đồng, đập lúa bằng tay, thì nay phần lớn ruộng lúa ở Trảng Bàng được gặt bằng máy gặt đập liên hợp. Máy cắt, tuốt hạt, xả rơm trong một lần chạy; lúa hạt được đổ vào bao, chở thẳng ra bờ cho thương lái hoặc về nhà phơi, sấy.
Máy gặt thường là dịch vụ thuê: chủ máy đi theo mùa, gặt cho nhiều chủ ruộng, tính tiền theo diện tích. Thuê máy giúp gặt nhanh, tránh được những ngày mưa, giảm hao hụt. Nhưng ruộng nhỏ, ruộng kẹt giữa nhà cửa, ruộng lầy thì máy khó vào, phải gặt tay hoặc chờ.
Cơ giới hoá cũng thay đổi quan hệ trong làng. Trước đây gặt lúa là dịp vần công, nhà này giúp nhà kia. Nay ít người làm thuê gặt tay, thanh niên đi làm nhà máy, người làm ruộng chủ yếu là trung niên và người lớn tuổi, dựa vào dịch vụ máy cho mọi khâu nặng nhọc.
Rơm rạ đi đâu
Sau khi gặt bằng máy, rơm được xả lại trên ruộng. Trước đây, cách xử lý phổ biến là đốt rơm ngay trên đồng cho nhanh, gây khói bụi và mất chất hữu cơ cho đất. Nay nhiều nơi đã khác: máy cuộn rơm đi theo máy gặt, cuộn rơm thành từng cuộn tròn gọn để bán.
Rơm cuộn được dùng làm thức ăn cho bò, làm giá thể trồng nấm rơm, phủ gốc cho cây trồng, làm phân hữu cơ. Tây Ninh nổi tiếng với nghề trồng nấm rơm ở nhiều nơi, và nhu cầu rơm cho nghề này giúp rơm có giá, nông dân có thêm thu nhập nhỏ thay vì đốt bỏ.
Nếu không bán được rơm, cách tốt cho đất là vùi rơm vào ruộng kèm chế phẩm phân huỷ, để rơm thành mùn trả lại cho đất. Việc đốt rơm vẫn còn ở một số nơi; khi đốt cần tránh gần khu dân cư, đường giao thông, và tránh ngày gió lớn.
Lúa và gạo làm bánh tráng
Người ta hay hỏi: bánh tráng Trảng Bàng có làm từ gạo của ruộng Trảng Bàng không? Câu trả lời thực tế là không nhất thiết. Nghề bánh tráng cần lượng gạo lớn, ổn định, đúng loại gạo cho bánh dẻo, mỏng; nhiều cơ sở mua gạo từ các vùng lúa lớn hơn qua thương lái. Gạo địa phương có thể được dùng, nhưng sản lượng lúa của vùng không đủ cho cả nghề.
Điều đó không làm giảm mối liên hệ giữa ruộng lúa và nghề bánh tráng. Bánh tráng sinh ra ở một vùng có lúa, có gạo, có người biết làm gạo thành bột, thành bánh. Ngày nay chuỗi cung ứng đã rộng hơn, nhưng gốc của nghề vẫn là cây lúa. Câu chuyện chọn gạo, ngâm gạo, xay bột thuộc về mục bánh tráng phơi sương của trang.
Một mối liên hệ khác ít người để ý: tấm, cám và phụ phẩm từ việc xay xát gạo được dùng trong chăn nuôi, còn nước vo gạo, nước ngâm gạo ở các lò bánh có khi được dùng cho heo. Nghề bánh tráng, ruộng lúa và chuồng trại trong làng vì thế từng là một vòng khép kín nhỏ, dù ngày nay vòng ấy đã lỏng đi nhiều.
Những đổi thay của cánh đồng Trảng Bàng
Nhìn lại vài chục năm, cánh đồng lúa ở đây đã đổi khác theo nhiều hướng:
- Diện tích lúa gần trung tâm và gần khu công nghiệp giảm, ruộng chuyển thành đất ở, đất sản xuất.
- Thuỷ lợi từ hồ Dầu Tiếng giúp nhiều chân ruộng từ một vụ lên hai, ba vụ.
- Gieo sạ và máy gặt thay cho cấy tay, gặt tay; người làm ruộng ít đi nhưng năng suất lao động cao hơn.
- Rơm từ thứ bỏ đi thành hàng hoá cho chăn nuôi bò và trồng nấm.
- Thanh niên rời ruộng vào nhà máy; nhiều chủ ruộng cho thuê lại cho người làm lúa quy mô lớn hơn.
- Nước thải từ khu dân cư, sản xuất ảnh hưởng tới một số ruộng ven kênh, ven rạch.
Không có số liệu chính xác trong tay, bài này không đưa con số diện tích hay sản lượng. Người cần số liệu nên tra niên giám thống kê tỉnh và báo cáo của ngành nông nghiệp địa phương.
Cảnh đồng lúa với người ghé thăm
Với người từ thành phố về, đồng lúa phía tây Trảng Bàng là một góc quê yên ả: ruộng phẳng tới chân trời, cò trắng lội, đường đất nhỏ chạy dọc bờ kênh. Mùa lúa chín vàng thường rơi vào khoảng đầu năm với vụ đông xuân và giữa năm với vụ hè thu. Những buổi chiều trời trong, nắng xiên trên đồng lúa chín là cảnh dễ chịu.
Khi đi thăm, nên đi đường lớn, đường bờ kênh có xe qua lại, không tự ý đi xuyên ruộng của dân, không dẫm lên lúa để chụp ảnh. Mùa gặt, đường đồng có máy gặt, xe chở lúa ra vào, cần nhường đường. Vùng giáp biên Phước Chỉ có quy định riêng về đi lại khu vực biên giới, nên hỏi trước nếu định đi sâu.
Mùa khô sau gặt, cánh đồng trơ gốc rạ, đàn bò, đàn vịt ra đồng; mùa mưa, ruộng ngập nước trắng, phản chiếu mây trời. Mỗi mùa một vẻ, nhưng đều là cảnh lao động thật của người làm ruộng, nên người ghé thăm nhớ giữ ý, chào hỏi khi đi ngang người đang làm việc.
Cho thuê ruộng và gom ruộng
Một thay đổi âm thầm nhưng lớn ở các cánh đồng Trảng Bàng là người làm ruộng không còn nhất thiết là chủ ruộng. Nhiều gia đình có ruộng nhưng không có người làm, cho người khác thuê lại theo năm. Người thuê, thường là những hộ còn gắn bó với nghề, gom nhiều thửa thành diện tích đủ lớn để thuê máy, mua vật tư với giá tốt hơn và làm có lãi.
Hình thức này có lợi cho cả hai bên nếu thoả thuận rõ ràng: chủ ruộng có thu nhập ổn định, ruộng không bị bỏ hoang; người thuê có quy mô để sống được bằng nghề. Rủi ro nằm ở chỗ thời hạn thuê ngắn khiến người thuê ít đầu tư cải tạo đất, và tranh chấp khi chủ ruộng muốn lấy lại đất giữa chừng để bán, chuyển mục đích.
Các mô hình cánh đồng lớn, liên kết sản xuất được ngành nông nghiệp khuyến khích nhằm giải quyết chính vấn đề ruộng nhỏ, manh mún. Ai quan tâm nên hỏi chính quyền xã về các tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động trong khu vực.
Câu hỏi thường gặp
Trảng Bàng làm mấy vụ lúa một năm?
Tuỳ chân ruộng. Nơi có nước kênh hoặc nước sông chủ động thường làm hai đến ba vụ: đông xuân, hè thu và có nơi thêm thu đông. Ruộng chỉ nhờ nước trời thường làm một vụ trong mùa mưa. Vùng trũng ven sông có thể phải bỏ vụ khi nước lên cao.
Vùng nào của Trảng Bàng trồng lúa nhiều nhất?
Lúa tập trung ở vùng trũng phía tây gần sông Vàm Cỏ Đông, khu vực xã Phước Chỉ mới, cùng các chân ruộng thấp ven sông Sài Gòn phía đông và nơi có kênh thuỷ lợi. Số liệu diện tích cụ thể nên tra báo cáo của ngành nông nghiệp.
Thuê máy gặt lúa tính tiền thế nào?
Thường tính theo diện tích ruộng, mức giá do chủ máy và chủ ruộng thoả thuận, thay đổi theo mùa, theo độ khó của ruộng. Nên thoả thuận rõ trước khi gặt về giá, cách đo diện tích và việc xử lý rơm. Bài này không nêu mức giá cụ thể.
Rơm cuộn dùng để làm gì?
Rơm cuộn được bán làm thức ăn cho bò, làm giá thể trồng nấm rơm, phủ gốc cây trồng và ủ phân hữu cơ. Bán rơm giúp nông dân có thêm thu nhập và hạn chế đốt rơm gây khói bụi, mất chất hữu cơ cho đất.
Có nên đốt rơm trên ruộng không?
Đốt rơm nhanh nhưng làm mất chất hữu cơ, gây khói bụi ảnh hưởng sức khoẻ và giao thông. Nên ưu tiên bán rơm, cuộn rơm, vùi rơm kèm chế phẩm phân huỷ. Nếu bắt buộc đốt, tránh gần nhà dân, đường lớn, tránh ngày gió mạnh và theo quy định của địa phương.