TrangBang.orgTrảng Bàng
Đất đai, sông nước và nông nghiệp

Cây mì (sắn) ở Trảng Bàng: mùa trồng, nhổ mì, chữ bột và bệnh khảm lá

Mì là cây trồng cạn quen thuộc trên đất xám Trảng Bàng. Trồng tháng nào, nhổ khi nào, bán củ tươi hay mì lát, nhà máy tính "chữ bột" ra sao và phòng bệnh khảm lá.

Rows of tall cassava plants with palm shaped leaves on pale grey soil at sunrise, a pile of freshly pulled brown roots at the field edge, workers far away

Mì (cây sắn) là một trong những cây trồng cạn quen thuộc trên đất xám ở Trảng Bàng, như ở nhiều vùng khác của Tây Ninh cũ, tỉnh từ lâu thuộc nhóm trồng mì nhiều nhất cả nước. Mì thường được trồng vào đầu mùa mưa, thu hoạch sau khoảng tám đến mười hai tháng tuỳ giống và mục đích; củ được bán tươi cho nhà máy tinh bột hoặc thái lát phơi khô.

Cây mì dễ trồng, chịu hạn, chịu đất nghèo, nhưng không phải không có rủi ro: giá biến động, đất kiệt nếu trồng liên tục, và từ năm 2017, bệnh khảm lá virus xuất hiện ở Tây Ninh rồi lan rộng, gây thiệt hại lớn. Bài này mô tả nghề trồng mì theo góc người làm rẫy: lịch vụ, cách bán, cách nhà máy định giá theo hàm lượng bột, và những điều cần biết về bệnh khảm.

Vì sao mì hợp với đất Trảng Bàng

Mì có nguồn gốc từ Nam Mỹ, được đưa vào Việt Nam từ lâu và trở thành cây lương thực, rồi cây công nghiệp. Cây mì có bộ rễ ăn sâu, chịu được đất nghèo dinh dưỡng, chịu được hạn tốt hơn nhiều cây khác, và đặc biệt không chịu úng. Đất xám miền Đông, nhẹ, tơi, thoát nước nhanh, là môi trường rất hợp để củ mì phát triển, dễ nhổ khi thu hoạch.

Ở Trảng Bàng, mì thường thấy trên các rẫy đất gò ở phía bắc, đông bắc và các khu đất xám xen giữa vườn cây. Vùng trũng ven sông làm lúa thì ít trồng mì vì đất giữ nước, dễ úng. Quy mô từng rẫy khác nhau, từ vài sào của hộ gia đình đến những khu rộng hơn do người thuê đất gom lại để trồng.

Cây mì cũng hợp với hoàn cảnh nhiều nông hộ hiện nay: con cái đi làm công nhân, nhà ít người làm nông, nên cần cây ít công chăm sóc. Mì trồng xong, làm cỏ, bón phân vài lần rồi chờ thu hoạch, công lao động tập trung vào lúc trồng và lúc nhổ, khi đó có thể thuê nhân công.

Lịch một vụ mì

Chuẩn bị đất (cuối mùa khô, đầu mùa mưa). Cày, xới đất, có thể lên luống. Nhiều hộ bón lót phân chuồng hoặc phân hữu cơ để bù cho đất đã trồng mì nhiều vụ.

Trồng (khoảng tháng 4 đến tháng 6). Mì được trồng bằng hom, tức đoạn thân cắt từ cây mẹ khoẻ, cắm xiên hoặc đặt nằm xuống đất. Trồng khi đất đủ ẩm sau những trận mưa đầu mùa giúp hom nảy mầm đều. Một số nơi trồng thêm vụ cuối mùa mưa.

Chăm sóc (vài tháng đầu). Làm cỏ khi cây còn nhỏ, bón thúc theo giai đoạn. Khi tán mì đã khép, cỏ khó mọc, công chăm sóc giảm hẳn.

Thu hoạch (sau khoảng 8–12 tháng). Thường rơi vào mùa khô, khi đất ráo, củ tích bột cao, dễ nhổ và dễ vận chuyển. Thời điểm nhổ còn phụ thuộc giá và lịch nhận hàng của nhà máy.

Sau thu hoạch. Thân mì được chặt giữ làm hom cho vụ sau (chọn từ cây khoẻ, không bệnh), lá và phần còn lại có thể vùi vào đất.

Nhổ mì: ngày công đông nhất của rẫy

Ngày nhổ mì là ngày rẫy đông người nhất. Người ta chặt thân mì để lại một đoạn gốc, rồi nắm gốc kéo lên hoặc dùng đòn bẩy, dụng cụ tự chế để bẩy cả bụi củ khỏi đất. Đất xám tơi giúp việc nhổ nhẹ hơn nhiều so với đất sét. Củ được chặt rời khỏi gốc, gom thành đống bên bờ rẫy chờ xe chở.

Nhổ mì là việc nặng, thường làm từ sáng sớm để tránh nắng. Nhiều nơi có tổ nhổ mì thuê, đi theo mùa từ rẫy này sang rẫy khác. Thương lái thường đặt xe tới tận bờ rẫy, cân và chở đi trong ngày, vì củ mì tươi để lâu sẽ giảm chất lượng, chuyển màu, giảm bột.

Người có rẫy nên thoả thuận rõ với thương lái về cách cân, cách trừ tạp chất (đất bám, củ nhỏ, gốc), cách tính chữ bột và thời gian thanh toán trước khi nhổ. Phần lớn tranh chấp mùa mì bắt đầu từ những chuyện không được nói rõ từ đầu.

Chữ bột: nhà máy định giá củ mì thế nào

Giá củ mì tươi thường không chỉ tính theo cân nặng mà còn theo hàm lượng tinh bột, mà người trong nghề gọi là "chữ bột". Củ nhiều bột thì một tấn củ cho ra nhiều tinh bột hơn, nên được trả cao hơn. Mỗi nhà máy, điểm thu mua có bảng giá theo từng mức chữ bột.

Cách đo phổ biến dựa trên nguyên lý tỷ trọng: tinh bột nặng hơn nước, nên củ nhiều bột thì nặng hơn khi cân trong nước. Mẫu củ được cân ngoài không khí rồi cân trong nước, từ chênh lệch đó tra ra chữ bột. Đây là phương pháp đơn giản, nhanh, nhưng phụ thuộc vào cách lấy mẫu và cách làm.

Chữ bột phụ thuộc giống, tuổi củ, thời điểm thu hoạch và thời tiết. Củ nhổ non tháng, nhổ sau mưa nhiều thường ít bột hơn. Người trồng có thể đề nghị được chứng kiến việc lấy mẫu, cân mẫu để yên tâm. Không có con số giá nào trong bài này, vì giá thay đổi theo thị trường từng tuần; nên hỏi vài điểm thu mua để so sánh trước khi bán.

Bán củ tươi hay làm mì lát

Người trồng mì có hai cách bán chính, mỗi cách hợp với một hoàn cảnh:

Tiêu chíBán củ tươiThái lát phơi khô (mì lát)
Công sứcít, bán ngay sau khi nhổnhiều: thái, phơi, đảo, đóng bao
Cần sân phơikhôngcần sân rộng và nắng ráo
Thời gian bánphải bán ngay, củ tươi để lâu hỏnggiữ được lâu hơn, chờ giá
Rủi rophụ thuộc giá ngày nhổ và chữ bộtmưa trái mùa làm mì lát mốc, giảm chất lượng
Hợp vớihộ ít người, rẫy lớn, gần điểm thu muahộ có sân, có người, muốn chủ động thời điểm bán

Mì lát được dùng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, sản xuất cồn và xuất khẩu; củ tươi chủ yếu vào nhà máy tinh bột. Cảnh mì lát trắng phơi kín sân vào mùa khô từng là hình ảnh quen thuộc ở nông thôn Tây Ninh, dù ngày nay nhiều hộ chọn bán tươi cho đỡ công.

Bệnh khảm lá mì: mối lo lớn nhất

Bệnh khảm lá mì do virus gây ra, được phát hiện ở Tây Ninh năm 2017 rồi lan sang nhiều tỉnh trồng mì. Cây bệnh có lá biến dạng, loang lổ vàng xanh như khảm, xoăn lại, cây còi cọc, củ nhỏ, năng suất và chữ bột giảm mạnh. Ruộng bị nặng có thể mất phần lớn sản lượng.

Bệnh lây chủ yếu qua hai đường: hom giống lấy từ cây bệnh, và bọ phấn trắng chích hút truyền virus từ cây bệnh sang cây khoẻ. Vì vậy, biện pháp chính là dùng hom sạch bệnh, lấy từ ruộng không có triệu chứng hoặc từ nguồn giống được kiểm soát; nhổ bỏ, tiêu huỷ cây bệnh sớm; không mua bán hom trôi nổi từ vùng có bệnh.

Các cơ quan nông nghiệp và viện nghiên cứu đã khuyến cáo một số giống có khả năng chống chịu bệnh tốt hơn để thay dần các giống cũ dễ nhiễm. Giống nào phù hợp với rẫy của mình, nên hỏi cán bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật của địa phương. Không tự ý dùng thuốc trừ sâu liều cao để diệt bọ phấn mà không có hướng dẫn, vì vừa tốn kém, vừa ảnh hưởng sức khoẻ và môi trường.

Đất kiệt và luân canh

Mì lấy đi rất nhiều dinh dưỡng của đất, nhất là kali. Trồng mì nhiều vụ liên tiếp trên cùng một rẫy mà không bồi bổ, đất xám vốn đã nghèo sẽ kiệt nhanh, năng suất giảm dần. Đây là chuyện nhiều nông hộ ở miền Đông đã trải qua.

Cách khắc phục là bón hữu cơ, trả lại xác lá mì cho đất, và luân canh với cây khác, đặc biệt cây họ đậu như đậu phộng, đậu xanh. Một số nơi xen canh đậu giữa các hàng mì trong giai đoạn đầu khi tán chưa khép. Xen canh cần tính toán mật độ để hai cây không tranh nhau quá nhiều.

Ở những rẫy dốc nhẹ, trồng mì trên đất trống dễ gây xói mòn vào đầu mùa mưa, khi cây còn nhỏ. Làm luống theo đường đồng mức, giữ cỏ trên bờ giúp giảm mất đất.

Một dấu hiệu dễ thấy của đất kiệt là cây mì vụ sau thấp hơn, lá nhạt màu hơn, củ nhỏ và ít hơn dù chăm sóc như cũ. Khi đó, thay vì tăng phân hoá học, nên nghỉ một vụ mì, trồng cây họ đậu hoặc cây phân xanh, bón hữu cơ đủ lượng, rồi mới quay lại. Một vụ "nghỉ" có thể giúp mấy vụ sau ổn định hơn.

Mì trong đời sống người Trảng Bàng

Ngoài vai trò cây công nghiệp, củ mì còn có mặt trong bữa ăn và món quà quê: mì luộc chấm muối mè, mì hấp nước cốt dừa, bánh khoai mì nướng. Những món này không cầu kỳ, gợi nhớ thời thiếu thốn khi mì là món độn cơm.

Củ mì tươi có chứa chất có thể gây ngộ độc nếu ăn sống hoặc chế biến không kỹ, nhất là phần vỏ và củ đắng. Người địa phương thường bóc vỏ, ngâm nước, luộc kỹ, đổ nước luộc đầu. Ai có triệu chứng bất thường sau khi ăn mì cần đến cơ sở y tế ngay.

Nhìn rộng hơn, cây mì là tấm gương phản chiếu kinh tế nông thôn vùng này: phụ thuộc giá nhà máy, chịu tác động của dịch bệnh, gắn với lao động mùa vụ. Khi giá mì tốt, rẫy rộn ràng; khi giá xuống, nhiều hộ chuyển sang cây khác hoặc cho thuê đất.

Thuê đất trồng mì: người ngoài vào làm rẫy

Khi nhiều chủ đất không còn trực tiếp làm nông, hình thức thuê đất trồng mì trở nên phổ biến. Người thuê thường là người có kinh nghiệm, có vốn, gom nhiều thửa nhỏ lại để trồng trên diện tích lớn hơn, thuê nhân công theo mùa và tự lo đầu ra. Chủ đất nhận tiền thuê theo năm hoặc theo vụ.

Thoả thuận thuê đất nên được lập thành văn bản, ghi rõ diện tích, thời hạn, cách trả tiền, ai chịu trách nhiệm cải tạo đất, và tình trạng đất khi trả lại. Một điều hay gây tranh cãi là đất bị kiệt sau nhiều vụ mì liên tiếp; chủ đất có thể đề nghị người thuê bón hữu cơ hoặc luân canh để đất không xuống cấp quá nhanh.

Với người thuê, cần kiểm tra quy hoạch sử dụng đất để biết thửa đất có sắp bị thu hồi, chuyển mục đích hay không, tránh đầu tư rồi phải bỏ dở. Với chủ đất, nên hỏi uy tín người thuê qua hàng xóm, chính quyền ấp. Bài này không nêu giá thuê, vì mức thuê tuỳ vị trí, chất đất và thời điểm.

Câu hỏi thường gặp

Trồng mì ở Trảng Bàng bao lâu thì thu hoạch?

Thường khoảng tám đến mười hai tháng tuỳ giống, thời điểm trồng và mục đích bán. Mì trồng đầu mùa mưa thường nhổ trong mùa khô năm sau, khi đất ráo và củ tích bột tốt. Nhổ non tháng thì củ ít bột, giá thấp hơn.

Chữ bột là gì?

Chữ bột là cách người trồng và thu mua mì gọi hàm lượng tinh bột trong củ mì tươi. Củ có chữ bột cao cho nhiều tinh bột hơn nên được trả giá cao hơn. Cách đo phổ biến là cân mẫu củ trong không khí và trong nước rồi tra theo bảng.

Làm sao nhận biết cây mì bị bệnh khảm lá?

Lá cây bệnh có các mảng vàng xanh loang lổ như khảm, lá xoăn, biến dạng, nhỏ lại; cây còi, chậm lớn. Khi thấy dấu hiệu, nên báo cán bộ bảo vệ thực vật để được xác định và hướng dẫn nhổ bỏ, tiêu huỷ đúng cách, không lấy hom từ cây đó.

Có nên tự để hom giống mì cho vụ sau không?

Có thể, nếu ruộng hoàn toàn không có cây bệnh khảm và hom lấy từ cây khoẻ, đủ tuổi. Nếu ruộng đã có bệnh, nên dùng hom sạch bệnh từ nguồn được kiểm soát. Hỏi cán bộ khuyến nông về các giống được khuyến cáo cho địa phương.

Mì lát phơi bao lâu thì khô?

Tuỳ nắng, gió và độ dày lát cắt, mì lát thường cần vài ngày nắng tốt để khô đạt, phải đảo đều để không mốc. Gặp mưa trái mùa, mì lát dễ bị mốc đen, giảm giá trị. Người phơi thường che bạt khi trời chuyển mưa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.